Generic selectors
Exact matches only
Search in title
Search in content
Search in posts
Search in pages
product
Filter by Categories
Bài học từ sách
Bản tin CLB
Báo chí
Blog
Cá nhân xuất sắc
Cảm hứng
Chưa được phân loại
Đọc gì?
Giới thiệu
Giới thiệu chung
Hệ thống phát hành
Kỹ năng sống
Lịch sử hình thành
Nguyễn Mạnh Hùng
Nhà Sách Thái Hà
Sách 360 độ
Sống khỏe
Sự kiện Thái Hà Books
Thái Hà Books và tôi
Tin Ảnh - Video
Tin sách Hay
Tin Thái Hà Books
Tin tức
TS. Nguyễn Mạnh Hùng
Tuyển dụng
Xem trước nội dung sách

Câu chuyện của một nữ y tá

[Thaihabooks] Đằng sau những tấm rèm, đằng sau những cánh cửa khép kín của bệnh viện; họ – các y tá có một thế giới riêng và khác hẳn với những gì chúng ta có thể tưởng tượng ra.

Category:

Giới thiệu sách: 

 

 

Đằng sau những tấm rèm, đằng sau những cánh cửa khép kín của bệnh viện; họ – các y tá có một thế giới riêng và khác hẳn với những gì chúng ta có thể tưởng tượng ra.

 

Cuốn tự truyện Câu chuyện của một nữ y tá kể về cuộc đời làm y tá trong suốt 20 năm của Tilda Shadolf, đặc biệt là khoảng thời gian cô làm y tá tại “Bộ phận chăm sóc đặc biệt” (ICU) – nơi có những bệnh nhân nguy kịch nhất của bệnh viện. Tại đây, cô đã chứng kiến biết bao nhiêu cuộc đời, bao nhiêu số phận, bao nhiêu căn bệnh hiểm nghèo và biết bao bệnh nhân với những cá tính khác nhau. Với lịch làm việc căng thẳng, với những bệnh nhân thường xuyên trong trạng thái “không ổn định”, các y tá ở đây dường như luôn đứng trên ranh giới giữa sự sống và cái chết. Chính họ – những y tá mới là người hiểu rõ tình hình của bệnh nhân nhất, là người gần gũi và chăm sóc cho bệnh nhân nhiều nhất, nhưng dường như không mấy người nhận ra điều đó. Thường xuyên phải đối mặt với bệnh tật, chết chóc, với những chuyện khó xử từ phía gia đình bệnh nhân, với nỗi sợ hãi của chính mình, rất nhiều người nghĩ chắc hẳn công việc của cô phải buồn thảm và chán chường lắm, nhưng trên thực tế, Tilda rất yêu công việc của mình. Cô không hề thấy nó buồn bã, mà trái lại, công việc đó luôn mang đến cho cô những cảm hứng, những thử thách mới cùng niềm đam mê bất tận trong công việc cũng như trong cuộc sống của mình.

 

Cuốn sách được viết với văn phong chân thực và gần gũi, dí dỏm mà vẫn đầy kịch tích, và chắc chắn bạn sẽ không thể đặt cuốn sách xuống dở chừng!

 

Hãy bước vào thế giới của các y tá cùng Tilda Shadolf!

 

Trích đoạn sách hay:

 

“…Trong lúc chuyển một bệnh nhân xuống tầng dưới, bà bảo tôi cho bà dừng lại một lát chỗ máy điện thoại tự động. Bệnh nhân của tôi là một phụ nữ có tuổi vừa trải qua một cơn viêm phổi nặng do bệnh phổi kinh niên của bà, nhưng bây giờ tình hình đã chuyển biến khá tốt và có khả năng bà sẽ được ra viện trong vài ngày tới. Bà nhờ tôi bỏ đồng 25 xu mà bà để dành vào máy và bấm một số điện thoại ghi trong một mảnh giấy gấp tư nhỏ. Đó là số điện thoại của nhà tang lễ địa phương. Bà cầm lấy ống nghe từ tay tôi và thu xếp với đầu dây bên kia để mua một mảnh đất chôn cất. Bà rút tấm thẻ tín dụng ra, bảo tôi đọc số rồi bà nhắc lại số thẻ vào ống nghe.

 

“Không, tôi vẫn chưa chết”, bà giải thích vơi người ở bên kia đầu dây, “nhưng chắc chả mấy nữa đâu.”

Một lần khác, chúng tôi tiếp nhận bệnh nhân tên là Tom Kettle, khi tôi nhập tên ông vào biểu đồ theo dõi trên máy tính, ông nói, “T. Kettle, cho ngắn gọn.”

Tôi nhìn lên và bắt gặp ánh mắt của Laura và cả của Frances nữa. Những chuyện buồn cười nho nhỏ như thế chẳng thể gây ra một trận cười nghiêng ngả, nhưng dường như lúc đó thì có.

“Ông T. Kettle.” Tôi ngừng lại để lau nước mắt trong khi cả nhóm chúng tôi vẫn đang ngồi ngoài phòng đợi cười sặc sụa vì chuyện ban nãy.

“Chuyện này làm mình nhớ lại một chuyện. Còn nhớ bà bệnh nhân người Anh mà những từ đầu tiên phát ra từ miệng bà ấy sau khi được tháo ống thở là “Cháu yêu, cho ta một tách trà được không?” chứ?”

“Chẳng phải lúc đó Morty đem một bình trà đến phòng bà ấy với cái nắp ấm trên đầu còn gì? Lúc nhìn thấy Morty đi vào với bộ dạng như thế, bà ấy đã đánh rơi cả bộ răng giả vì cười ghê quá!” Nicole nói.

Tất nhiên, tất cả những chuyện này lại khiến chúng tôi rộ lên một lần nữa.

 

Mọi người bao giờ cũng hỏi những câu giống nhau về công việc của tôi. Làm cách nào mà tôi có thể giữ khoảng cách trong tình cảm với bệnh nhân? Chẳng lẽ tôi không thấy mệt mỏi khi ngày ngày phải đối diện với những căn bệnh hiểm nghèo sao? Chẳng lẽ tôi không thấy chán nản sao? Tại sao tôi không chọn một nơi khác để làm, một nơi vui vẻ hơn, có nhiều người khỏe mạnh hơn? Cho dù tôi có trả lời thế nào đi chăng nữa thì họ vẫn không hài lòng.

Tôi bắt đầu ngờ rằng người ta hỏi tôi những câu hỏi như thế vì khi họ nghe nói về công việc của tôi, họ có những cảm giác khó chịu và cả những nghi ngại mới. Nó làm họ cảm thấy bị xáo trộn và buồn nôn. Nó khiến họ nghĩ đến sự an toàn của bản thân và vòng đời ngắn ngủi của mình. Nó khiến họ tự hỏi liệu những điều khủng khiếp như vậy có bao giờ xảy ra với họ hay gia đình họ không. Nó khiến họ thấy bất an.

 

Frances nói cho tôi biết cách cô đối mặt với những phản ứng của bạn bè và gia đình cô.

“Mình bảo họ rằng mình yêu công việc y tá, nhất là y tá ở ICU này. Ở đó, bạn phải giải quyết các vấn đề và bạn biết tất cả đều tùy thuộc vào bạn. Bệnh nhân tin tưởng giao phó cuộc sống của họ vào tay bạn trong những giờ phút họ ở đó và bạn có thể thực sự giúp đỡ mọi người. Đôi khi bạn phải kéo họ lên từ bờ vực thẳm. Mình sẽ chẳng làm ở bất cứ nơi nào khác.”

Nicole thì nói. “Chăm sóc bệnh nhân, dù họ có qua khỏi hay không, sẽ chẳng khiến bạn buồn phiền nếu người nằm trên giường bệnh đó không phải là một thành viên trong gia đình bạn. Ngay cả khi bạn gần gũi và thực sự quan tâm đến họ thì đến cuối ca làm, bạn cũng phải ra đi.” Nhưng rồi điều gì đó bỗng xuất hiện trong tâm trí cô. “Nhưng nếu điều đó xảy ra với ai đó trong gia đình bạn, khi đó mọi chuyện sẽ khác.”

 

Tôi không hỏi Laura, nhưng cô đã nghe thấy chúng tôi nói chuyện và cũng cho tôi biết quan điểm của cô.

 “Công việc không phải là thứ khiến mình chán nản, mà chính là các bác sĩ. Chúng ta làm tất cả mọi việc và các bác sĩ nhận lấy tất cả những lời biểu dương. Chúng ta là những người thực sự biết được chuyện gì đang xảy ra với bệnh nhân, nhưng gia đình bệnh nhân lại lao vào và hỏi, bác sĩ đâu rồi? Bác sĩ nói sao? Người ta không nhận ra rằng chính những y tá mới là người giúp họ được nhiều hơn.”

 Thỉnh thoảng tôi cũng nhiệt tình đáp ứng khi có người hỏi tôi về công việc của mình bằng cách đưa ra ví dụ về trường hợp gia đình Cresswell. Khi họ đến ICU lần đầu tiên, tôi đi cùng và giải thích tất cả mọi thứ với họ, giúp họ làm quen với các thứ máy móc đáng sợ, giải nghĩa rõ ràng các loại chuông báo động, khuyến khích họ hỏi những điều họ còn thắc mắc, cho phép họ vào thăm bố họ bất cứ lúc nào họ muốn, và cuối cùng đảm bảo với họ rằng ông ấy không phải chịu bất cứ sự đau đớn và khó chịu nào.

 

“Nhưng tình hình ông ấy thế nào? Ông ấy có khá hơn không?” bạn bè tôi hỏi. Tất nhiên là ai cũng muốn một kết thúc có hậu.

“Ồ, không. Việc điều trị đã không mang lại kết quả như ý muốn. Ông ấy bệnh quá nặng và có quá nhiều biến chứng. Nhưng ông ấy đã ra đi rất nhẹ nhàng.”

Ngay cả những y tá như chúng tôi nhiều lúc cũng bị ám ảnh bởi cái chết và sự chết chóc mà quên mất những thành công trong đó có sự góp sức của mình. Chúng tôi đã cứu sống, chữa khỏi bệnh cho nhiều người và đưa họ trở về với cuộc sống vui vẻ. Nếu họ quay trở lại thăm chúng tôi, đó là một phần thưởng cực kỳ to lớn! Nhưng chúng tôi chẳng bao giờ mong đợi điều đó. Thực tế thì chúng tôi còn thấy ngạc nhiên bất cứ khi nào một bệnh nhân cũ bước vào phòng. Việc gì họ phải quay lại để thấy những cảnh rùng rợn như thế chứ? Thậm chí với sự chăm sóc tình cảm và nhẹ nhàng nhất đi chăng nữa thì có những thứ ở ICU cũng chẳng dễ chịu chút nào: các IV, các thứ thuốc men, luồn ống, máy thở, và tiếng ồn nữa. Chắc chắn là họ phải cố gắng quên chúng tôi đi và tống tất cả những điều đó ra khỏi đầu chứ? Tuy vậy, thỉnh thoảng cũng có bệnh nhân đến và muốn bắt tay người đã chăm sóc mình. Họ cảm ơn từng người một và thường đặt một hộp bánh rán hoặc một chậu cây xanh rất to ở phòng y tá. Chúng tôi vẫy tay tạm biệt họ và làm tất cả mọi điều có thể để hạn chế hoặc xóa tan hoàn toàn bất cứ cảm giác về nghĩa vụ, bổn phận nào có thể có nơi họ. Chúng tôi thực sự muốn được đánh giá cao, nhưng chúng tôi không muốn lòng biết ơn. Chúng tôi muốn sự công nhận, chứ không phải sự mang ơn. Hai cái đó khác nhau nhiều lắm.

 

Những trường hợp đó – những trường hợp chúng tôi điều trị thành công – là lý do mà ban đầu chúng tôi đã theo nghề y tá. Nhưng thậm chí ngay cả khi bệnh nhân không tiến triển tốt, nếu chúng tôi tin rằng chúng tôi có thể làm gì đó có ích, chúng tôi vẫn có thể làm công việc của mình với một niềm tin rõ ràng về những điều chúng tôi làm. Chỉ cần chúng tôi tin rằng sự đau đớn trong quá trình điều trị là cái giá xứng đáng cho một cơ hội bệnh tiến triển thì chúng tôi vẫn yêu công việc ở ICU này, và làm việc với tất cả tâm huyết. Hầu như tất cả chúng tôi đều không muốn làm việc bất cứ nơi nào khác. Những y tá bỏ đi thường cuối cùng vẫn quay trở lại. Đôi khi, chúng tôi nhận được một tấm thiệp hoặc một lá thư cảm ơn.

Chúng tôi muốn gửi lời cảm ơn từ sâu trong trái tim mình, vì sự chăm sóc mà các y tá đã dành cho người phụ nữ có một vị trí rất đặc biệt với tất cả chúng tôi. Mặc dù chúng ta đã phải đưa bà về với Đức Chúa, nhưng chúng tôi đánh giá cao sự chăm sóc khéo léo và đầy tình yêu thương của mọi người trong suốt thời gian bà ở đó. Cảm ơn tất cả mọi người.

 

Công việc của chúng tôi rất căng thẳng, nhưng tôi tin rằng nhiều người trong chúng tôi khát khao sự căng thẳng đó. Nó cho chúng tôi sinh lực và niềm vui. Chúng tôi cần sự căng thẳng trong những ca bệnh đầy thử thách, trong những vấn đề phức tạp mà chúng tôi phải giải quyết, và trong việc áp dụng kiến thức chuyên môn của mình để mang lại hiệu quả công việc cao nhất. Sự căng thẳng là cái giá phải trả cho một công việc thú vị, thách thức và đầy khí thế.

Thường thì, nếu tôi gặp một y tá vào giữa ca làm ngày hoặc đêm bận rộn, khi y tá đó đang chăm sóc một bệnh nhân ốm nặng hoặc đang nguy kịch, và hỏi mọi chuyện thế nào rồi thì câu trả lời sẽ kiểu như “Ngày hôm nay thật tuyệt. Trời ạ, nhìn mấy giờ rồi này! Thời gian trôi nhanh thật đấy.”

Tôi nhớ một lần vào phòng của Nicole để giúp cô một tay. Tôi biết cô đang rất bận. Chiếc xe đẩy đang nằm một bên, chắc cô để chiếc xe ở đó vì tin rằng mình sẽ sớm cần đến nó. Thậm chí cô ấy còn đi trước một bước và dán một miếng điều hòa nhịp tim ngoài lên ngực bệnh nhân, chỉ để đề phòng thôi, vì cô để ý thấy nhịp thở bất thường đôi lúc xuất hiện trên màn hình theo dõi, nhịp thở nhiều khi báo trước sự loạn nhịp có thể dẫn đến chết người. Tôi thực hiện việc lấy máu cho cô, tìm các kết quả xét nghiệm, chuẩn bị và treo thuốc kháng sinh trong khi cô cập nhật cho tôi tình hình bệnh nhân.

 

“Áp suất trong các ngăn”, cô nói, hất đầu về phía màn hình theo dõi. Cô đang pha thêm dopamine, một loại thuốc làm co mạch có công dụng mạnh, làm tăng huyết áp của bệnh nhân. Vấn đề là bệnh nhân của cô cần thứ thuốc đó, nhưng nó lại có thể làm tăng nhịp tim của ông ấy, điều này rất nguy hiểm. Nicole thu hẹp các thông số báo động cao và thấp để cô có thể được cảnh báo sớm khi có chuyện gì xảy ra.

 “Ông ấy vừa mới bị co giật, vừa qua một cơn tim đập nhanh với rất nhiều nhịp đập bất thường. Ông ấy đang rất nguy kịch, may mà cậu đến giúp, cảm ơn, Til, bây giờ mình bình tĩnh rồi.”

 Tôi nhìn cô. Nicole đang rất xúc động và hồi hộp. Cô đang làm năm việc khác nhau cùng lúc, chuẩn bị cho năm việc tiếp theo nữa. Cô hoàn toàn tập trung trong công việc, nắm quyền kiểm soát, thoải mái với tất cả sự hỗn loạn này. Một nụ cười rạng rỡ nở trên khuôn mặt cô.

  Các y tá thích sửa chữa các thứ. Nếu họ có thể.

 

 Tôi chỉ có thể nghe thấy một phía của cuộc nói chuyện trên điện thoại, nhưng nó khiến tôi phải dừng lại.

  Người điều phối các bộ phận cấy ghép đang ngồi ở phòng y tá gọi điện thoại. Một tách cà phê nguội ngắt đặt trên chiếc máy đếm bên cạnh bà và dưới chân bà là một thùng nhựa màu đỏ ướp lạnh rất lớn mà tôi biết trong đó chứa vài bộ phận cơ thể của một người nào đó mới chết. Bà ngả người về phía trước khi nói chuyện điện thoại.

 “Anh có thể đưa ông ấy đến bệnh viện trong bao lâu?… Phải, một cặp phổi… rất phù hợp…” Bà mỉm cười, chia sẻ sự kích động với người bên kia đầu dây. “Ông ấy đã đợi chờ cuộc điện thoại này quá lâu rồi…hơn một năm, tôi biết chứ… phải, chuyện thật đấy! Giờ tôi không muốn hối thúc anh, nhưng chúng tôi cần anh đến đây càng sớm càng tốt… đừng quên khi vào phòng mổ rồi vẫn luôn có một khả năng là có thể những lá phổi không đạt yêu cầu. Đôi khi có một lý do nào đó khiến chúng ta không thể thực hiện ca ghép được. Nếu chuyện đó xảy ra, chúng tôi sẽ đánh thức ông ấy và tên ông ấy sẽ được đưa trở lại danh sách chờ đợi… Chúng tôi sẽ chờ anh ở đây. Lái xe cẩn thận nhé.”

 Chúng tôi mỉm cười với nhau khi bà đặt điện thoại xuống. Tôi bấm chiếc bút của mình về phía bà. Đó là một trong số những chiếc bút mà bà cho tất cả chúng tôi – cả dây đeo chìa khóa nữa – với khẩu hiệu “Đừng đem các cơ quan của bạn lên thiên đường. Thiên đường biết rằng ở đây chúng tôi cần đến chúng.”

 Chúng tôi không cần biết cơ quan nào được dùng cho bệnh nhân nào, nhưng thường thì chúng tôi đều biết hết. Tất cả chúng tôi đều không chỉ một lần chăm sóc những người hiến tạng bị chết não, gửi thi thể họ đến phòng mổ để các bác sĩ phẫu thuật lấy các cơ quan, rồi sau đó đến ca làm tiếp theo lại chăm sóc cho người nhận các cơ quan đó. Đầu tiên cũng tôi cũng thấy ghê lắm, nhưng tôi dần dần quen với điều đó và nó nhanh chóng trở thành một điều mà đến giờ này dường như tôi vẫn cảm thấy như vậy: thật đáng kinh ngạc. Cực kỳ ấn tượng với đúng nghĩa của từ đó: tôi hoàn toàn ấn tượng.

 

 Chúng tôi cố gắng giữ cơ thể của Margot tiếp tục sống cho đến khi bào thai được ít nhất 24 tuần tuổi. Đó là quyết định của chồng cô, cố gắng giữ lấy đứa bé. Người mẹ không thể sống được, nhưng đứa bé có thể có một cơ hội nếu người ta giữ cho người mẹ còn sống càng lâu càng tốt. Tất cả các y tá cùng chăm sóc cho cô, vài người trong chúng tôi cảm thấy nghi ngại về tình hình của cô.

 Một nhóm nhỏ các y tá dành thời gian ngoài giờ trong phòng bệnh, mở những bản nhạc dịu dàng cho bào thai nghe, trò chuyện với nó, tổ chức các buổi họp mặt trong phòng để cầu Chúa phù hộ cho nó.

 Tôi không tham gia, cùng với các y tá không theo tôn giáo đó và những người đơn giản là không tin rằng người ta nên cố gắng làm như thế với một bào thai. Tất cả những cố gắng và nguồn lực của chúng tôi, cả nhân lực và tài chính, đều nên được hướng đến người đang sống, chúng tôi nghĩ vậy. Margot đã chết, chỉ mang trong mình một sự sống quá mong manh. Mỗi ngày trôi qua là các cơ quan trong cơ thể cô lại yếu đi thêm, dễ bị nhiễm khuẩn hơn và do đó sẽ ít có cơ hội phù hợp để cấy ghép cho các bệnh nhân khác. Sau một vài ngày, một quyết định được đưa ra khi cơ thể của Margot trở nên quá bất ổn, bác sĩ phải lấy bào thai mới được 22 tuần tuổi ra và bỏ các máy móc hỗ trợ sự sống ra khỏi cơ thể cô. Đứa bé đã bị chết non.

 “Đầu tiên, ta sẽ đọc một bài thánh thi”, Cha Szigetti nói khi đặt thân hình nhỏ như một con búp bê lên một cái khăn màu xanh đã khử trùng trên máy đếm trong phòng Margot. Trông nó giống như một chiếc thạch dâu tây dẻo hình một em bé sơ sinh bị nhổ khỏi miệng một đứa trẻ, vẫn còn lóng lánh và ươn ướt. “Rồi chúng ta sẽ cầu nguyện cho linh hồn đứa bé.”

 

“Cha có thể làm những nghi thức cuối cùng cho người mẹ hay đứa bé được không?” một trong các y tá theo Thiên chúa giáo hỏi.

“Chúng ta không làm lễ xức dầu thánh với người đã chết”, Cha Szigetti nghiêm nghị nhắc cô và nhìn cô như muốn bảo rằng đáng lẽ ra cô phải biết điều đó chứ. Cha cũng làm tất cả mọi điều có thể để an ủi các y tá.

Phổi của Margot vẫn có thể sử dụng được, nhưng thật không may lại quá muộn cho Alice Heidebretch, vợ của người nông dân theo dòng Menno, người bị mắc chứng tăng huyết áp phổi. Tình trạng cô đã xấu đi rất nhanh chóng, và cô trở nên quá bất ổn, không đủ sức trải qua một ca ghép phổi. Cô đã được đưa về nhà để chăm sóc và rồi chết ở nhà.

Tôi không biết chắc chắn nhưng tôi nghĩ phổi của Margot được dùng cho bệnh nhân của tôi, bệnh nhân mà vài ngày sau đó tôi được phân công chăm sóc. Jeremy là một cậu thanh niên 18 tuổi bị xơ nang. Chưa ngày nào trong cuộc đời mình, cậu được thở dễ dàng. Để thay thế các enzyme bị thiếu trong cơ thể, cậu phải nuốt hơn hai trăm viên thuốc mỗi ngày.

 

“Tôi nhận ra rằng ghép phổi sẽ chẳng chữa được căn bệnh xơ nang của nó”, mẹ cậu nói, “nhưng chỉ cần bất cứ thứ gì có thể giúp nó thở dễ hơn, chúng tôi cũng sẽ rất biết ơn. Nó đã phải vật lộn suốt những tháng ngày tuổi trẻ rồi.”

Rõ ràng là bà cũng thế, cùng với con trai bà.

Jeremy tiến triển tốt. Chỉ trong vài giờ sau khi phẫu thuật, cậu đã tỉnh lại và không cần đến máy thở nữa. Các dấu hiệu sống của cậu đã ổn định và cho đến cuối ngày thì chúng tôi tháo bỏ ống thở. Vẻ kinh ngạc trên khuôn mặt cậu, sự sửng sốt khi thấy mình có thể thở dễ dàng, có lẽ là lần đầu tiên trong đời, khiến tôi cảm động đến phát khóc.

Jeremy nhìn quanh và chỉ thở thôi. Hít vào và thở ra, và chúng tôi chỉ biết nhìn cậu.

“Thật yên tĩnh”, mẹ cậu nói, khóc nức nở trong tay tôi. “Tôi chưa bao giờ thấy nó không ho. Tôi không dám tin vào mắt mình nữa!”

 

“Mẹ, bây giờ con cần một chiếc đồng hồ báo thức”, cậu nói, miệng cười toe toét.

“Nó chưa bao giờ cần đồng hồ báo thức cả”, bà giải thích. “Tiếng ho của nó là chuông báo thức mỗi sáng rồi.”

Sylvie đã chờ đợi các lá phổi trong suốt hơn hai năm. Cô bé cũng bị xơ nang nhưng trước kia chưa bao giờ bị nặng như Jeremy. Còn bây giờ thì có. Chỉ mới 17 tuổi nhưng phổi cô bé đã bị thủng lỗ chỗ, do các nút nhày và nhiễm trùng nhiều lần.

Tôi đến giúp Tracy, hôm nay cô là y tá chăm sóc cho cô bé, chúng tôi mỗi người đứng một bên giường và quan sát Sylvie gắng sức thở. Chúng tôi đeo mặt nạ oxy cho cô bé ở mức 100% và mặc dù mỗi hơi thở là một lần cô phải vật lộn đầy khó nhọc, cô vẫn dùng chút sức lực nhỏ bé của mình để mở miệng nói vài từ.

“Mẹ ơi, giúp con với…con không thở được.”

Mẹ cô bé đang nắm bàn tay cô. “Làm ơn, xin hãy làm gì giúp con bé đi”, bà đứng đó van nài chúng tôi.

Chúng tôi chẳng thể làm gì được cả. Chúng tôi không thể cho cô bé uống thuốc an thần được bởi vì như thế, có thể cô sẽ không thở đủ đáp ứng yêu cầu của mặt nạ oxy. Kết quả là nhiều khả năng cô bé sẽ cần phải đặt ống nội khí quản, rồi đến một máy thở để đảm nhiệm việc thở cho cô. Tất cả những việc này sẽ bất lợi cho Sylvie và dẫn đến việc cô bị đưa ra khỏi danh sách bệnh nhân được thực hiện ghép phổi.

Đó là một tình huống thật thương tâm. Chẳng ai trong chúng tôi có thể chịu đựng cảnh đó thêm nữa, vậy nên chúng tôi bước ra ngoài phòng và theo dõi cô từ bên ngoài.

 

“Chuyện gì đang xảy ra trong đó vậy?” Laura hỏi với lại từ phía bên kia hành lang.

“Sylvie cần uống thuốc an thần và cần được luồn ống thở”, Tracy giải thích, “nhưng nếu chúng ta làm thế, người ta sẽ đưa cô bé ra khỏi danh sách được cấy ghép.”

“Nếu luồn ống thở thì đó sẽ là tấm vé một chiều để ra khỏi đây đấy”, một bác sĩ nội trú đi ngang qua nói. “Họ sẽ đẩy tên nó xuống dưới hoặc cho nó ra khỏi danh sách luôn, còn ngay lúc này thì tên con bé đang đứng đầu danh sách ở Ontario.”

“Tôi nghĩ cô bé có thể chịu được một chút thuốc an thần”, Tracy nói. “Tôi nghĩ cô bé có thể chịu được. Nó sẽ làm cô bớt lo lắng và giúp cô thở dễ dàng hơn. Tôi quan sát Tracy đang ngẫm nghĩ về điều đó. Cô đang tính toán chiều cao và cân nặng của Sylvie để quyết định dùng loại thuốc nào là tốt nhất và liều lượng ra sao. Cô cũng đang tính đến tất cả những thứ thuốc mà Sylvie đang dùng và những hiệu quả cũng như tương tác thuốc khác nhau liên quan đến nhịp thở, huyết áp, nhịp tim và trạng thái tinh thần của Sylvie. Cô đang nghĩ lại những lần trước đây cô chăm sóc Sylvie và xem xét lại các phản ứng của cô bé với thuốc an thần, thuốc giảm đau và các phương pháp trị liệu chống trầm cảm. Cô đang ghép tất cả các mảnh của bức tranh lại và thêm vào đó bản năng và sự ân cần của mình để vạch ra được một kế hoạch hành động.

 

Một bác sĩ nội trú đến và nhìn Sylvie từ ngoài cửa phòng. “Nếu cô làm con bé tê liệt, nó sẽ không thở được, và chúng ta sẽ phải luồn ống cho nó và thế là đi tong cơ hội được ghép phổi. Con bé còn nhỏ tuổi và chỉ cần một liều thuốc an thần dành cho trẻ em thôi cũng là quá mạnh đối với nó. Nếu là tôi thì tôi không mạo hiểm làm thế đâu.”

“Nhưng anh có ở trong đó với cô bé ấy đâu mà biết”, Tracy nói. Anh đâu có đứng ở đó và thấy nỗi kinh hoàng trong mắt Sylvie, sự đấu tranh của cô bé, sự bất lực của bà mẹ, tôi nghĩ. Trên hết, đó chỉ là một điều nhỏ nhặt, nhưng đối với Sylvie và mẹ cô bé thì đó lại là một điều hết sức to lớn. Nó có khả năng trở thành một vấn đề lớn, trong tương lai. Nhìn vào mắt Tracy, tôi có thể thấy rằng cô quyết định sẽ làm điều đó.

“Cả đời tôi đã bị hen”, Tracy nói, cô vừa tiết lộ một điều mà không ai trong số chúng tôi trước đây từng biết. “Tôi hiểu được nỗi khủng khiếp khi người ta không thở được. Chẳng có gì đáng sợ hơn. Tôi biết rằng đó là một ranh giới rất mong manh, nhưng tôi nghĩ một chỉ cần một chút nhỏ morphin thôi cũng có thể giúp cô bé bớt lo lắng và hé mở khí đạo của cô bé. Nhìn nó trong tình trạng này, tôi không chịu nổi.”

Bác sĩ nội trú lắc đầu. “Tôi phản đối. Không đáng mạo hiểm như thế.”

 “Tôi sẽ đi gọi cho bác sĩ Bristol”, Tracy nói, cô biết rõ hậu quả của việc cãi lại bác sĩ nội trú, và quan trọng hơn là có thể điều đó sẽ phải trả giá bằng cơ hội được ghép phổi của Sylvie.

 “Ông ấy sẽ không thích việc cô làm đâu”, bác sĩ nội trú nói to.

 Tracy quay lại, nước mắt dàn dụa. “Ông ấy nói, “Cứ làm điều cô muốn đi. Cô biết rõ là tôi không đồng ý”, và dập máy. Đằng nào mình vẫn sẽ làm.”

 Cô biết rằng ông ấy sẽ không ủng hộ cô nếu kế hoạch của cô không thành công như mong đợi. Nhưng chúng tôi thì có.

 

 Tracy quay trở lại phòng bệnh để nói chuyện với Sylvie và mẹ cô bé. Bruno vào cùng chúng tôi và mát xa nhẹ nhàng cho Sylvie trong lúc chờ thuốc đến. Tôi lấy chùm chìa khóa tủ thuốc ngủ và đến chỗ chiếc tủ để lấy morphin. Tôi nghĩ mình đã thấy bàn tay Tracy run run khi tiêm thuốc.

“Chỉ một liều nhỏ nhất thôi”, Tracy nói để mẹ cô bé an tâm.

Tất cả những điều đó – những lời nói, những cái chạm nhẹ, những ý định tốt đẹp của các y tá cùng với morphine – đã giúp Sylvie thở dễ dàng hơn. Đó là điều mà chỉ có một y tá mới biết được. Bạn phải ở ngay đó thì mới đánh giá được sự cân bằng tinh tế đó. Tracy có một trực giác rất nhạy và một trí óc với khả năng phân tích tuyệt vời. Cô biết rất nhiều nhưng lại không biết được rằng mình biết điều đó hay làm sao mà mình biết điều đó.

Mẹ Sylvie vuốt tóc con gái. “Trông con khá hơn rồi đấy, con yêu, đừng lo gì nữa nhé. Anh con về nhà chăm lũ mèo rồi. Mẹ sẽ gọi cho bố để bảo bố là con khỏe hơn rồi nhé. Thôi, giờ đừng cố nói gì cả. Chỉ cần nghỉ ngơi thôi.”

Khi Frances và tôi bước vào thang máy sáng hôm sau thì mẹ của Sylvie vừa bước ra.

“Tôi ra ngoài hút thuốc một lát. Tôi sẽ phải quay trở vào ngay vì Sylvie sắp vào phòng mổ rồi. Đêm qua, người ta đã tìm được phổi để ghép cho con bé!”

Chúng tôi cười một cách tự động để đáp lại nụ cười của bà và cố gắng không để bà thấy chúng tôi đang cảm thấy lo lắng. Chúng tôi không thể bắt mình tỏ ra hân hoan như bà được. Chúng tôi biết rằng trong trường hợp như Sylvie, quá trình hồi phục sẽ kéo dài và đầy khó khăn, có thể còn phức tạp nữa, ngay cả khi cô bé qua được ca phẫu thuật. Hôm trước khi vào phòng mổ, tình trạng cô bé đã chuyển biến xấu đi rất nhanh chóng; đó sẽ là một ca có nguy cơ cao.

Cảm ơn các cô, không chỉ vì khả năng chuyên môn mà còn vì trái tim hào hiệp và nhân ái của các cô.

Hầu hết các y tá đều rất thoải mái với việc phẫu thuật ghép các cơ quan. Chúng tôi tin vào những việc chúng tôi đang làm. Chúng tôi biết rằng ở cộng đồng ngoài kia có nhiều người đang sống từng ngày bên máy điện thoại, cầu nguyện để nhận được cuộc cuộc điện thoại có thể cứu sống cho họ. Ngay cả khi các gia đình từ chối hiến tạng, tất cả mọi người đều tôn trọng quyết định của họ. Chúng tôi hiểu rằng nỗi đau, niềm tin tôn giáo hoặc quan điểm về đạo đức đều có thể khiến một gia đình không đồng ý hiến tạng. Tuy vậy, có những lần một người đã ký giấy đồng ý hiến tạng đi kèm giấy phép lái xe của mình, nhưng khi người đó chết, gia đình lại không chấp nhận quyết định đó. Những trường hợp như thế khiến rất nhiều người trong số chúng tôi cảm thấy thất vọng, thậm chí còn thấy bất bình thay cho người đã chết vì nguyện vọng của họ đã không được thực hiện.

 

“Chúng ta không sở hữu cơ thể chính mình – hay bất cứ thứ gì khác thuộc về vấn đề này – một khi chúng ta đã chết”, bác sĩ Bristol giải thích. “Luật pháp quy định rất rõ ràng chuyện này”, ông nói thêm.

Nhưng có một trường hợp không được rõ ràng như thế. Trường hợp đó đã khiến cho tất cả chúng tôi bối rối. Đến tận bây giờ, nhiều lần tôi vẫn còn băn khoăn về trường hợp đó. Đêm hôm đó tôi đã học được một từ mới.

“Cô cho cháu một mô tô hiến nhân nhé”, Casey nói – y tá phụ trách ban ngày nói.

“Cái gì cơ ạ?”

“Một kẻ liều mạng. Anh ta đang thể hiện một màn trình diễn mô tô trong câu lạc bộ. Mà thôi, anh ta bị chết não và là một người hiến tạng tiềm năng đấy, nhưng hơi có rắc rối một chút.” Bà mỉm cười và nói, “cô nghĩ rằng cháu đủ khéo léo để giải quyết được chuyện đó, Tilda ạ. Thế nên cô mới để anh ta cho cháu.”

Bác sĩ Bristol và luật sư của bệnh viện đã có mặt trong phòng bệnh. Tôi cố gắng lắng nghe, nhưng Morty cứ nói to quá, át hết cả tiếng họ.

 

“Như kiểu là Tòa án nhân dân ấy”, Morty nói về một chương trình phát trên TV vào buổi chiều. “Phiên toàn các bạn sắp chứng kiến là một việc có thật. Những người tham gia không phải là các diễn viên. Họ là những người đưa đơn kiện thật của một vụ án đã bị treo tại Tòa án Tối cao California.”

“Suỵt”, tôi nói. “Để mình nghe xem chuyện gì đang xảy ra nào.”

“Nạn nhân thực tế đã ký giấy đồng ý hiến tạng đi kèm với giấy phép lái xe, nhưng cô bạn gái hợp pháp – cô ta là người thân gần nhất của nạn nhân, không còn người thân nào khác – tuyên bố rằng cô ta sẽ không chấp nhận điều đó nếu chúng ta không để cho cô ấy lấy tinh trùng của anh ta để anh ta có thể làm bố sau khi chết”, luật sư nói.

“Thực hiện lấy tinh trùng theo cách thông thường là một việc bất khả thi”, bác sĩ Bristol giải thích, “cho dù là với khoa học kỹ thuật tiến bộ đến đâu đi chăng nữa.” Hai người cười ngoác miệng với nhau như trẻ con. “Bệnh nhân bị chết não và việc lấy tinh trùng chỉ có thể thực hiện được bằng một quy trình xâm nhập. Dù sao đi nữa, quan trọng hơn là người thân gần nhất có đồng ý hiến tạng không?”

 

“Có, nhưng với điều kiện phải nhận được…cái kia thôi. Thế đấy, thế mới nói. Người ta đã giải thích để cô ta hiểu rằng trong trường hợp này là điều đó là không thể được. Về phần người đã chết, phải có một ý định cụ thể, rõ ràng trong việc lấy tinh trùng vào mục đích gì.”

Liệu cái thứ đó thì còn có mục đích gì khác nữa chứ, tôi tự hỏi.

“Anh ấy là chồng chưa cưới của tôi”, một phụ nữ xinh đẹp với nét mặt buồn bã đang đứng bên giường bệnh nói. “Chúng tôi đã định ngày cưới rồi, sẽ là ngày Valentine!”

“Ông biết tại sao vấn đề này lại cần phải giải quyết nhanh chóng rồi đấy”, bác sĩ Bristol nói với luật sư. “Nếu có bất cứ cơ hội nào để anh ta có thể hiến tạng, thì chính là lúc này đấy.”

“Tôi sẽ không đồng ý với bất cứ điều gì nếu không có được tinh trùng của anh ấy”, cô gái nói.

“Chuyện này sẽ bổ sung thêm một nghĩa nữa cho cụm từ “ông bố trên danh nghĩa”, Morty nói, cô cố gắng nói thầm thôi nhưng có vẻ không được.

 

“Suỵt”, tôi nhắc cô.

Bác sĩ Bristol đưa ra một gợi ý rất sáng tạo.

“Liệu có thể lấy tinh trùng, rồi bảo quản cách ly trong thiết bị đông lạnh được không? Như thế sẽ cho người được ủy nhiệm và tòa án có thời gian để cân nhắc quyết định của mình.”

“Tôi muốn có con với anh ấy!” Người phụ nữ bắt đầu kêu khóc và lăn mình vào cơ thể vạm vỡ, đầy hình xăm trên giường và nửc nở trên bộ ngực rộng của anh ta. “Anh ấy đã muốn chúng tôi có con”, cô nói.

Bác sĩ Bristol nói với cô. “Việc đó còn rất mơ hồ, hay ít nhất là chẳng có gì chắc chắn cả, liệu rằng Raoul có muốn làm bố sau khi anh ấy chết không.” Ông nói chậm rãi và cẩn trọng.

“Nếu có thể gọi đó là một ông bố được!” Morty nói khẽ, nhưng có lẽ không được khẽ cho lắm.

“Dù sao đi nữa, chúng ta sẽ không bao giờ có thể biết được nguyện vọng của anh ấy trong vấn đề này. Cô đã bao giờ nói chuyện với anh ấy về việc có con chưa?”

 

“Tất nhiên là rồi. Chúng tôi đã nói về chuyện đó rất nhiều lần.”

“Cô và anh ấy đã bao giờ nói đến chuyện có con, ngay cả trong trường hợp anh ấy có thể chết chưa?”

“Tất nhiên là không”,cô gào lên đầy phẫn nộ. “Anh ấy chẳng bao giờ nghĩ rằng mình sắp chết! Mà tại sao anh ấy phải nghĩ thế chứ? Anh ấy mới 25 tuổi. Thậm chí anh ấy còn chẳng có di chúc cơ mà.”

Luật sư kéo bác sĩ Bristol và tôi ra một góc phòng và Morty thì tự nhập vào với chúng tôi.

“Xem chừng cô ta rất quyết tâm đấy. Liệu đó có phải là mong muốn thực sự của cô ta hay là do động cơ trục lợi, để thừa kế gia sản của anh ta chẳng hạn? Nếu trong một năm sau đó, cô ta tìm được một anh chàng mới thì ta sẽ làm gì với cái, ờ, cái mẫu đó đây?”

“Như thế là đi quá xa đó! Tôi không có ý định chơi trò thám tử điều tra cuộc sống riêng tư hay chuyện yêu đương của cô ta đâu”, bác sĩ Bristol thốt lên. “Tôi không biết liệu lúc này trạng thái tinh thần của cô ta có đủ tốt để thảo luận vấn đề này không.”

 

“Mà hình như cô ta thậm chí còn chưa hiểu hết sự mất mát này”, tôi nhận xét.

Một bác sĩ phẫu thuật đi lại và vẫy tôi ra ngoài hành lang.

“Sao lại lâu thế?” anh ta hỏi, mắt liếc nhìn đồng hồ. “Chúng tôi đã sẵn sàng và chờ anh ta trong phòng mổ suốt hơn một tiếng rồi.”

“Có một chút vướng mắc…ý tôi là một chút chậm trễ.” Tôi nén một tiếng cười.

Trông anh ta rất mệt mỏi và muốn biết liệu có thể chợp mắt một tẹo trước buổi đêm dài dằng dặc đang chờ đợi mình phía trước không, hay thậm chí là liệu anh ta có một đêm dài như thế ở phía trước không nữa. Tôi hiểu tất cả những điều đó nhưng đôi khi, vì sự hưng phấn trước

“vụ thu hoạch”, các bác sĩ phẫu thuật lại cư xử như những kẻ đi săn hơn là những người nông dân.

Khi tôi quay trở lại phòng bệnh nhân, bác sĩ và luật sư đã đi và cô bạn gái bệnh nhân túm lấy tay tôi. Ánh mắt dữ dội của cô ta khiến tôi phát hoảng. Liệu cô ta có định tấn công tôi không? Làm sao tôi gọi được bảo vệ, Mật mã Trắng – một bệnh nhân có hành vi bạo lực? Morty giờ đang ở đâu vậy?

“Tôi cần tinh trùng của anh ấy”, cô ta nói. “Tôi muốn chị giúp tôi.”

 “Điều đó là bất khả thi và vi phạm pháp luật”, tôi nói nghiêm nghị, bắt chước cả bác sĩ và luật sư. Cô ta mềm lả ra và lại lao vào cơ thể trên giường bệnh một lần nữa.

 

Thật là một vấn đề hóc búa: nếu một việc gì đó đã là bất khả thi rồi thì việc nó có vi phạm pháp luật hay không có gì là quan trọng nữa? Mà nếu đã là vi phạm pháp luật rồi thì việc nó có thực hiện được hay không có gì quan trọng nữa? Người ta có thể thực hiện một quy trình phẫu thuật nhưng như thế sẽ là vi phạm pháp luật, vậy còn đi nghĩ đến việc có thực hiện được hay không để làm gì?

“Thế còn cách cổ điển thì sao? Liệu có hiệu quả không?” cô ta hỏi tôi với một nụ cười yếu ớt.

Đúng lúc đó, Morty xuất hiện trở lại và đưa cho tôi một bản báo cáo khẩn cấp mà cô nguệch ngoạc trên mảnh giấy.

“Loạn dâm tử thi!”

“Tôi không tin rằng hành động xuất tinh vẫn còn xảy ra được khi đã chết não”, tôi nói, ngừng lại sau khi nhìn mảnh giấy và liếc mắt sang Morty để bảo cô đừng nói nữa. “Nhưng tôi cũng không rõ lắm.” Chắc chắn có rất nhiều câu hỏi đã nảy sinh trong công việc thực tế của tôi mà chưa từng được nhắc đến trong những kiến thức tôi học được ở trường đại học. “Mà cô nghe luật sư nói rồi đấy. Raoul đã đồng ý hiến tạng, nhưng anh ấy không hề đồng ý làm bố của những đứa trẻ sau khi chết.”

 

Tôi gặp lại bác sĩ Bristol và luật sư, hai người vẫn đang tiếp tục cuộc thảo luận của mình bên ngoài phòng bệnh nhân. Họ đang nói đến kỹ thuật xuất tinh điện (tôi để ý thấy cả hai người đàn ông này cùng cau mặt khi nhắc đến kỹ thuật đó) và tính khả thi của việc thu tinh trùng sống sau một thời kỳ thiếu oxy. Rõ ràng đó sẽ là một nghiên cứu rất thú vị để viết ra thành sách, chắc hẳn bác sĩ Bristol đang nghĩ thế.

Sau vài phút, cô bạn gái ra khỏi phòng bệnh nhân. Khuôn mặt cô ta đầy vẻ mãn nguyện. “Tôi đã có được thứ tôi muốn”, cô ta nói, vỗ vỗ vào chiếc ví và liếm môi. “Các người có thể lấy thứ các người muốn.”

Chúng tôi nhìn nhau kinh ngạc. Có phải cô ta đang bịp chúng tôi không?

Chúng tôi chẳng bao giờ biết chắc điều đó….”

 

Lời khen tặng: 

 

Bạn có thể tìm thấy biết bao câu chuyện thương tâm và khiến bạn không thể cầm lòng được trong cuốn sách này. Nếu Câu chuyện của một nữ y tá không làm bạn rung động, hẳn bạn được làm từ gỗ đá! (Theo báo Edmonton)

 

Thông tin tác giả:

 

Tilda Shadolf là một y tá đầy kinh nghiệm từng làm việc gần mười lăm năm tại “Bộ phận chăm sóc đặc biệt” trong bệnh viện của một thành phố lớn. Hiện bà đang sống cùng chồng và hai con trai tại Toronto, Canada.

 

Thông tin cuốn sách:

 

 

Tên sách Câu chuyện của một nữ y tá
Tác giả Tilda Shalof
Giá 61.000 (vnđ)
Số trang 397
Khổ 15,5 x 24 (cm)
Nhà xuất bản Lao động – Xã hội
Dạng bìa Bìa mềm

 

Công ty CP Sách Thái Hà trân trọng giới thiệu.

 

ĐỌC SÁCH EBOOKS:

– Alezaa:http://m.alezaa.com/view.php?id=sLAxCO8Ilr8

 

– Smartebook: http://bookmate.vn/detail.aspx?bookid=10528

 

Đặt mua tại:

 

+ Nhà sách bản quyền của Thaihabooks: http://sachbanquyen.vn/

 

Hoặc: Các kênh phân phối sách của Thaihabooks

 

+ Hệ thống phát hành miền Bắc:

 

https://thaihabooks.com/gioi-thieu/8/He-thong-phat-hanh-mien-Bac/

 

+ Hệ thống phát hành miền Trung:

 

https://thaihabooks.com/gioi-thieu/10/He-thong-phat-hanh-mien-Trung/

 

+ Hệ thống phát hành miền Nam:

 

https://thaihabooks.com/gioi-thieu/9/He-thong-phat-hanh-mien-Nam/

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “Câu chuyện của một nữ y tá”